|
Nghiên cứu
phụ nữ Việt Nam là lãnh vực chưa có nhiều người đi sâu. Tuy nhiên, ở Việt
Nam, cũng như trong toàn thế giới chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, người ta
rất coi trọng “truyền thống lịch sử”, trong đó có”truyền thống phụ nữ” và
“người phụ nữ truyền thống”. Từ khi mở cửa và bước đầu hội nhập thế giới
hiện đại, người ta vẫn quan tâm, hay đúng ra lại càng quan tâm hơn đến
truyền thống phụ nữ. Ngày Quốc tế Phụ nữ Tám tháng Ba được kỷ niệm cùng với
Lễ Hai Bà Trưng ngày Sáu tháng Hai âm lịch. Nhân ngày này, Hội Liên hiệp Phụ
nữ trung ương cũng như địa phương thường nhắc “truyền thống phụ nữ Việt Nam”
để cổ động “Vì sự tiến bộ của phụ nữ” mà không cảm thấy mâu thuẫn chút nào.
Thế nhưng, bất cứ ai quan tâm đến quyền lợi giới đều có thể nhắc chúng ta
quả thật lạ lùng nếu, giữa “bảo tồn truyền thống” và “đấu tranh vì tiến bộ”,
mục tiêu và vấn đề cần chú ý lại hoàn toàn thống nhất với nhau; huống nữa
khi cuộc vận động tiến bộ cho phụ nữ diễn ra trong một xã hội thấm nhuần đạo
lý Nho giáo tự lâu đời.
Trong bài viết mang tính đề dẫn cho một diễn đàn mong sẽ đón nhận đóng góp
của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều bạn đọc nữ cũng như nam, chúng tôi xin nêu
vài suy nghĩ gợi mở để trao đổi ý kiến.
Truyền thống quý trọng và tôn vinh phụ nữ?
Có nhiều nguyên nhân lịch sử và văn hóa giải thích vai trò quan trọng của
người phụ nữ trong xã hội Việt Nam truyền thống. Văn minh Đông Nam Á bản địa
trước khi tiếp thu ảnh hưởng văn hóa Ấn-Hoa vốn có đặc trưng là văn minh
nông nghiệp độc canh cây lúa, đặc biệt là lúa nước, giống cây đòi hỏi nhiều
công sức lao động thủ công đến nỗi thành viên nữ khó bị gạt ra ngoài lề sản
xuất. Đông Nam Á cũng có chế độ mẫu hệ phổ biến và dai dẳng; có nhiều nữ
thần đến mức nữ hóa một số Phật và Bồ tát nam, mà trường hợp điển hình nhất
là Phật bà Quan âm biến thái từ Quan (cũng đọc Quán) thế âm Bồ tát. Những
yếu tố cổ đại này đến nay vẫn là thực tế xã hội, bảo đảm tính bền vững của
truyền thống.
Một thực tế lịch sử khác là tập quán dùng đê điều ngăn lũ lụt – lâu đời như
được ghi dấu trong truyền thuyết Sơn Tinh-Thủy Tinh – có tác dụng cố kết
cộng đồng, huy động đông đảo người nam tham gia lao động công ích. Chiến
tranh, kể cả chống ngoại xâm và nội chiến kéo dài nhiều tháng, nhiều năm, có
khi nhiều chục hay đến mấy trăm năm, càng đặt người phụ nữ vào tình thế
thường xuyên gánh vác việc nhà và cả việc làng, việc xóm. “Chàng ơi phải
lính thì đi, Cửa nhà đơn chiếc đã thì có tôi.”
Các truyền thuyết thời Hùng Vương khắc sâu trong ký ức cộng đồng những giá
trị cội nguồn dân tộc Việt. Mẹ Âu Cơ sinh trăm trứng nở trăm con, nhắc nhở
“đồng bào” là một mẹ sinh ra, dẫu nòi Rồng giống Tiên là “tương khắc, bất
đồng” mà vẫn dung nạp khác biệt, hòa hợp âm dương sinh sôi con đàn cháu đống.
Ngôn ngữ Việt không “duy lý” mà đậm đà tình cảm, thậm chí là nhục cảm: cốt
nhục, đồng bào, ruột thịt, rồi lòng mẹ, đất mẹ, tổ quốc thường ví với mẹ
hiền… Người phụ nữ trong truyền thuyết thời sơ sử hồn nhiên mà quyết liệt,
trong nghịch cảnh vẫn khẳng định mình như Tiên Dong, như người vợ của hai
anh em song sinh trong tích Trầu Cau, như người đàn bà vọng phu ôm con hóa
đá, như Mỵ Châu dẫu hai lần mang trọng tội vẫn được khoan dung nhìn nhận là
trắng ngần, trong suốt ngọc trai.
Lịch sử Việt Nam có hơn nghìn năm Bắc thuộc trong hơn hai nghìn năm lịch sử
biết tương đối rõ ràng. Mở đầu trang sử chống Bắc thuộc là chiến công của
hai nữ tướng: “Đô kỳ đóng cõi Mê Linh, Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.”
Lời thề xuất quân của Hai Bà Trưng được ghi lại trong Thiên nam ngữ lục:
“Một xin rửa sạch nước thù, Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng, Ba kẻo oan
ức lòng chồng, Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này.” Nợ nước trước thù chồng,
tham gia gánh vác việc chung là điều rất bình thường trong vô số nữ binh, nữ
tướng hưởng ứng khởi nghĩa Mê Linh dưới trướng Hai Bà. Chỉ vài thế kỷ sau đó,
người thiếu nữ Triệu Thị Trinh đã phải tự khẳng định mình vượt lên trên
thường tình nhi nữ: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém cá
tràng kình ngoài biển Đông, quét sạch quân Ngô ra ngoài bờ cõi chứ không
chịu khom lưng làm tì thiếp người ta.” Lẫm liệt là như thế, một lý tưởng đời
người, oai phong là như thế, Vua Bà làm kinh sợ đối phương. Nhưng suốt nhiều
trăm năm tiếp theo, do trật tự nam trọng nữ khinh, nam ngoại nữ nội, phụ nữ
hình như không có mặt hay không còn lưu dấu trong lịch sử chiến tranh, ngoại
trừ hiếm hoi những ả Đào, những phụ nữ vô danh trong khởi nghĩa Lam Sơn, hay
trong đội quân áo vải cờ đào của Quang Trung Nguyễn Huệ. Nữ tướng Bùi Thị
Xuân, rồi vợ ba Cai Vàng, vợ ba Đề Thám, những danh xưng nhiều khi chưa lưu
dấu tên người phụ nữ nhưng đủ minh chứng truyền thống quật cường của những
người đàn bà không chỉ làm vợ và làm mẹ.
Nhưng lịch sử nào phải chỉ có chiến tranh và khởi nghĩa. Ỷ Lan từ cô gái hái
dâu trở thành nguyên phi, rồi Thái hậu; hai lần nhiếp chính thay chồng, thay
con trị nước là hai lần để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng người. Được tôn
xưng Phật bà Quan âm vì dân no ấm, khiến Thánh Tông không thể lui quân mà
không giành chiến thắng; kiên quyết chống tệ nạn lạm sát trâu là sức kéo cho
nông nghiệp; nhân hậu và thấu cận nhân tình khi xuất của kho chuộc gái nhà
nghèo ở đợ đem gả cho trai nghèo không tiền cưới vợ với người ta, “đổi đời
cho họ” như lời bình của sử thần Ngô Sĩ Liên. Đến nỗi thảm sát hơn bảy mươi
mạng người vì tranh chấp quyền lực mà vẫn được sử gia nho sĩ khoan dung, ấy
là bởi công lớn với đời hay bởi nhà nho thông cảm tâm hồn phụ nữ: “Ghen là
thường tình của đàn bà”? Dương Vân Nga, hoàng hậu của hai vua; Lý Chiêu
Hoàng nhường ngôi cho chồng rồi bị giáng làm công chúa vì cái “tội” oan
khiên là không con nối dõi; Trần Thị Dung, hoàng phi triều Lý và Quốc mẫu
triều Trần; nàng công chúa Trần Huyền Trân trở thành bà hoàng Chiêm quốc để
đất nước thêm hai châu Ô, Rí; Trịnh Thị Ngọc Trúc với hai đời chồng ngang
trái nhưng là tác giả những công trình nghiên cứu tâm huyết và uyên bác…
Trần Thị Thái và Nguyễn Thị Lộ đóng vai trò nào trong cuộc đời danh nhân
Nguyễn Trãi? Văn thơ hay danh phận được nhiều đời truyền tụng, nhưng hậu thế
hiểu đến đâu tâm hồn phụ nữ của những Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Thị Hinh (mà
người đời thường chỉ biết dưới danh xưng bà Huyện Thanh Quan), Hồ Xuân Hương,
Lê Ngọc Hân hay gần hơn là những bà Từ Dũ, Từ Cung và cô Mariette Nguyễn Thị
Lan được phong Nam Phương hoàng hậu?… Và bao nhiêu nữa những phụ nữ con vua
cháu chúa hay lam lũ dân thường với những số phận, tâm tư còn chờ trang sử
cũ được soi thêm quan điểm giới? Dẫu sao, chính sử Việt Nam tuy ít nói về
phụ nữ song thường lưu dấu hình ảnh đẹp; cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng từ đầu
công nguyên được trân trọng ghi chép và bình luận, tôn vinh kể cả trong
những thời Nho giáo độc tôn cứng rắn nhất.
Anh hùng, bất khuất, không chỉ trong đấu tranh vũ trang; trung hậu, đảm đang,
không chỉ trong cuộc sống gia đình; người phụ nữ Việt Nam đã khẳng định mình
trong nhiều lãnh vực và hình như cũng được thừa nhận một cách đáng kể, khác
biệt khá rõ so với láng giềng Á Đông như Trung quốc, Triều Tiên, Nhật Bản.
“Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng”, người cha nông dân nhìn
nhận. Anh trai làng bức xúc: “Trăng lên đỉnh núi trăng tà, Em còn ở đó làm
giàu cho cha?” Người vợ tự tin: “Một mai thiếp có xa chàng, Đôi bông thiếp
trả đôi vàng thiếp xin” (đôi bông là sính lễ, đôi vàng là do “của chồng công
vợ” mà sắm được). Người mẹ lo thầm thương trẻ cút côi, hay láng giềng so đo
nhận xét: “Mồ côi cha ăn cơm với cá, mồ côi mẹ liếm lá đầu đường.” Chế độ
phụ quyền Nho giáo thiết lập nam tôn nữ ti từ luật pháp, lệ làng đến luân
thường đạo lý. Nhưng tôn ti chính thống không hoàn toàn triệt tiêu thực tế
ăn sâu từ cội nguồn gia đình, làng xã. Người phụ nữ Việt Nam tham gia lao
động sản xuất làm ra của cải vật chất và thường là nguồn yêu thương chăm sóc
chồng con, đỡ đần cha già mẹ yếu, là chỗ dựa cho gia đình về nhiều phương
diện. Đảm đang, tần tảo là từ Hán Việt, có thể ngược về từ nguyên từ cổ đại
Trung Hoa; nhưng mẹ hiền vợ đảm thì ai cũng hiểu là những người phụ nữ Việt
lặn lội thân cò, chịu thương chịu khó, thức khuya dậy sớm, cùng lúc làm
nhiều việc mà việc nào cũng chu tất, vẹn toàn, là người giỏi giang, hiệu quả
mà thầm lặng hy sinh. Vô số ca dao hát về tình yêu đôi lứa trong đó phụ nữ
là đối tượng yêu thương, mong nhớ, khát khao, cả giận hờn, oán trách hay
thương cảm, xót xa. Cũng rất nhiều bài nói lên sự quý trọng đối với công lao
“gánh vác giang sơn nhà chồng”, lòng biết ơn và tình cảm sâu sắc, thiết tha
của con gái, con trai đối với công cha nghĩa mẹ. Người yêu, người vợ, người
mẹ, nói chung là người phụ nữ được yêu thương chiếm vị trí rất lớn trong ca
dao và trong tâm hồn người Việt.
Như vậy phải chăng truyền thống là hoàn toàn tốt đẹp, chỉ cần vun đắp, bảo
tồn?
Người ta được phép nghi ngờ khi rất nhiều ca dao nói về những mối tình dang
dở vì “lòng bác mẹ như rương khóa rồi”, vì “cha mẹ tham giàu ép uổng duyên
con”, vì “xấu người mai chước, lỡ chừng đôi ta”, hay vì đường xa cách trở,
vì phụ bạc, lỡ làng; biết bao lời than thở, hờn duyên trách phận vì tảo hôn,
vì đa thê, vì hôn nhân không cân xứng; biết bao cơ cực nhọc nhằn từ bé gái
đến đời mẹ, đời bà, bao cay đắng của phận làm vợ, làm dâu, của nghèo khổ,
thất học và và đói rách… Truyện thơ và ngâm khúc được truyền tụng có tác giả
hay khuyết danh đều chọn phụ nữ làm nhân vật trung tâm; để rồi thi hào
Nguyễn Du hai lần thống trách: “Đau đớn thay phận đàn bà!” Người chinh phụ,
người cung nữ, gái lầu xanh, người kỹ nữ cô đơn trong đêm lạnh Tầm dương hay
người đàn bà thôn dã “em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya”; văn chương bác
học hay bình dân đều có quá nhiều chân dung phụ nữ đau buồn. Và ngay cả khi
ca ngợi những đức tính được xem là truyền thống, hình như người ta cũng quá
đề cao sự chịu đựng, hy sinh, nhẫn nhục, quên mình, “nhịn ăn nhịn mặc nhịn
lời mẹ cha”, “bên ướt mẹ nằm bên ráo phần con”… Đó là chưa nói đến những
quan niệm lệch lạc về chữ hiếu, chữ trinh, chữ tình, chữ nghĩa khiến nhiều
phụ nữ không dám làm chủ cuộc đời mình, đến hôn nhân gả bán, đến vợ lẽ, con
nuôi như những quan hệ bán, đợ trá hình, đến nạn bạo hành trong gia đình nay
vẫn còn phổ biến, đến quan hệ chồng chúa vợ tôi, hay “trai năm thê bảy thiếp”
như một sự thường tình, đến thành kiến “con gái không cần học cao” khiến
đường học vấn của nữ gián đoạn không chỉ vì lý do kinh tế…
Phụ nữ Việt Nam thời hiện đại, chuyển biến trong nhận thức về giới?
Trong xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc, bên cạnh vô vàn tội ác của thực dân,
không thể không tính đến những chuyển biến theo hướng hiện đại hơn. Phu đồn
điền, phu mỏ, công nhân nhà máy, tuy phụ nữ bị bóc lột tàn khốc hơn vì không
có chuyên môn, vì chế độ lương phân biệt, song họ bước đầu biết thế nào là
sự tự chủ kinh tế vì đi làm có lương. Trường học mở ra tuy nhằm mục đích đào
tạo đội ngũ viên chức và nhân viên kỹ thuật không thể thiếu cho việc xác lập
bộ máy cai trị thực dân và nền móng kinh tế tư bản song cũng tạo điều kiện
cho nhiều trẻ em và thanh niên trai gái tiếp thu tri thức mới. Lần đầu tiên
nữ học sinh đến lớp đến trường. Và trong phong trào cách mạng đầu thế kỷ 20,
Đông kinh nghĩa thục cũng như các trường học cách mạng khác bắt đầu có vài
cô giáo bên cạnh các thầy. Lê Thị Đàn được Phan Bội Châu tôn xưng Ấu Triệu,
cô Bắc, cô Giang dưới ngọn cờ Việt Nam Quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học,
rồi Minh Khai và những nữ đảng viên cộng sản đầu tiên, những người phụ nữ cứ
đông dần lên và được biết đến nhiều hơn cùng với sự phát triển của cuộc đấu
tranh chống áp bức xã hội, chống chủ nghĩa thực dân.
Một dòng chảy không kém phần quan trọng của lịch sử, nhất là từ sau Chiến
tranh thế giới thứ nhất đến 1945, là sự hình thành trào lưu văn học và tư
tưởng mới. Nền văn học chữ quốc ngữ ra đời và nhanh chóng thay thế văn học
cổ điển Hán-Nôm. Về thể loại - thơ mới, truyện ngắn, tiểu thuyết và các thể
loại báo chí như bản tin, phóng sự, phỏng vấn,… thay thế thơ phú, câu đối,
văn tế cổ điển – cũng như về chủ đề, nội dung, người viết và người đọc, tất
cả đều đổi mới và tự ý thức mình là mới mẻ, như những từ “tân thư, tân văn,
thơ mới” mà họ dùng để chỉ sách báo và tác phẩm của mình. Phụ nữ, tuy số ít
song đó thường là số chị em năng động nhất, bắt đầu theo đuổi việc học lên
cao, có người đi học đại học ở Pháp, số đông hơn học trong nước và hành nghề
tự do như dạy học, viết báo, trở thành văn, thi sĩ; cũng có người mở trường
dạy nghề cho nữ, viết báo cổ động nữ quyền. Nữ học đường như Áo Tím ở Sài
Gòn, Đồng Khánh ở Hà Nội, Huế được biết đến như là nơi đào tạo tầng lớp nữ
trí thức tuyệt đại bộ phận là yêu nước và có ý thức về giới. Báo chí nữ, nhà
xuất bản nữ ra đời với tôn chỉ rõ ràng là ủng hộ cuộc đấu tranh vì nam nữ
bình quyền, vì nâng cao dân trí và khả năng đóng góp của nữ lưu cho dân tộc.
Thơ mới, tiểu thuyết vượt ra ngoài phạm vi đơn thuần văn học để tham gia đặt
lại các vấn đề về tự do, hạnh phúc cá nhân trong tình yêu và hôn nhân, về
gia đình, về địa vị, vai trò phụ nữ. Xu thế ấy tạm lắng khi Cách mạng Tháng
Tám 1945 huy động toàn dân vào cuộc đấu tranh giành độc lập.
Phong trào giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam cùng hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
đã thu hút nhiều thế hệ phụ nữ tham gia. Họ là học sinh, trí thức, là công
nhân, nông dân, là thiếu nữ phơi phới tuổi xuân hay người vợ, người mẹ tiễn
chồng rồi lại tiễn con, cháu lên đường chiến đấu. Trong chiến tranh vào loại
khốc liệt nhất xưa nay, những người phụ nữ có mặt khắp hậu phương, tiền
tuyến, là chiến sĩ hay tướng cầm quân, là người xoa dịu nỗi đau hay nạn nhân
thầm lặng, vừa đánh giặc vừa làm trăm nghìn công việc khác, không ít người
vì cuộc chiến kéo dài mà gác lại bao nhiêu sinh hoạt đời thường như yêu
đương, lấy chồng, sinh con, nuôi dạy con khôn lớn, như học tập, hành nghề,
lo cơm áo cho gia đình, thực hiện hoài bão, ước mơ riêng. Từ khắp mọi miền
đất nước họ đã cùng dân tộc viết những trang đau thương, anh dũng của cuộc
kháng chiến bền bỉ và rất đỗi anh hùng, vì độc lập tự do cho tổ quốc và vì
nhân cách con người. Nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật, tranh tượng, phim
ảnh đã khắc họa chân dung người phụ nữ trên nhiều mặt trận và mấy chục năm
sau khi chấm dứt chiến tranh, đang bước đầu đi vào ngóc ngách tâm hồn giới
nữ trong ngổn ngang tình cảm riêng tư, bộn bề cuộc sống muôn màu muôn vẻ.
Lịch sử đấu tranh cách mạng và hai cuộc kháng chiến, tuy đã có nhiều trang
sách báo, thơ ca, nhiều tác phẩm đủ thể loại đề cập, song công chúng nhiều
thế hệ trong và ngoài nước vẫn như còn khao khát được biết rõ hơn, chân xác
hơn nhiều khía cạnh, trong đó những mảng chưa được soi sáng đầy đủ thường
rơi vào số phận cá nhân, đặc biệt là người phụ nữ, dù họ đã được ngợi ca,
xưng tụng khá nhiều. Lắng đọng sau lời ca ngợi tính cách anh hùng rất thực,
người ta đang mong chờ lịch sử và nghệ thuật tái hiện sinh động hơn nữa,
phân tích sâu sắc hơn nữa những thân phận con người, với biết bao thăng trầm,
biến đổi, với những hoàn cảnh chung, riêng và vui buồn sướng khổ may rủi
riêng tư, cá biệt, với những chọn lựa và quyết định cá nhân dù cùng hướng
hay ngược chiều xu thế chủ đạo. Người ta cũng mong nhận dạng được, trong
dòng chảy chung, những cộng đồng bộ phận – vùng miền, nghề nghiệp, thế hệ,…
- trong đó không thể không tính đến phụ nữ, trẻ em. Một lần nữa, lịch sử
giới, và quan điểm giới nói chung, chẳng những sẽ góp phần làm lịch sử chung
toàn diện, đầy đủ hơn, mà chắc chắn sẽ phát hiện thêm nhiều mới mẻ còn tiềm
ẩn. Ý thức đã có, và cũng có những thành tựu bước đầu, như Bảo tàng Phụ nữ
Nam bộ, rồi Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam; như việc phong tặng “mẹ Việt Nam anh
hùng”; như Khoa Phụ nữ học đã được thành lập ở một trường Đại học rồi đáng
tiếc bị thay bằng một danh xưng khái quát chung chung. Mong sao ý thức giới
trong nghiên cứu, giáo dục và đào tạo, đặc biệt là trong khoa học xã hội và
nhân văn tiếp tục tự khẳng định mình và được hưởng ứng rộng rãi, hiệu quả
hơn nữa.
Nhưng phụ nữ thời nay còn là tác nhân của hiện tại và tương lai, là người
tham dự vào thực tiễn xã hội đang thay đổi nhanh chóng cùng thời đại. Một
trong những thành tựu của cách mạng và kháng chiến là khẳng định năng lực và
phẩm chất của phụ nữ trong mọi lãnh vực hoạt động, kể cả những lãnh vực “phi
truyền thống” nhất. Không phải đã hết những định kiến, nghi ngại, thậm chí
là kỳ thị; song nhìn toàn cục, người quan sát trong và ngoài nước dễ thống
nhất nhận xét phụ nữ Việt Nam, cả về số lượng và chất lượng đóng góp, có vẻ
gìn giữ và phát huy được vai trò của mình trong nhiều mặt sinh hoạt, cả
trong gia đình và cộng đồng rộng lớn hơn, trong học tập, hoạt động nghề
nghiệp hay hoạt động chính trị, xã hội. Truyền thống dân tộc và truyền thống
cách mạng có phần đi cùng một hướng; việc kỷ niệm cùng lúc truyền thống Hai
Bà Trưng và ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 vì thế, không phải là không có cơ sở.
Thực tế thuận lợi đó, tuy vậy, không nên làm chúng ta quên đi một số thực tế
khác, không kém phần rõ nét.
Trước hết, Việt Nam vẫn là một nước nghèo; hậu quả chiến tranh và thời đầu
hậu chiến chưa phải đã được hoàn toàn khắc phục; biểu hiện là sự chậm và kém
phát triển về giáo dục, kinh tế, về khoa học và kỹ thuật cũng như tổ chức
quản lý tài nguyên thiên nhiên, quản lý tài chính và nhân lực. Những tổn
thất về sinh mạng, những di chứng chiến tranh đã khiến số lượng gia đình đơn
thân, trẻ mồ côi, thương bệnh binh và người khuyết tật, số lượng người thiệt
thòi về học vấn, đào tạo nghề và do đó về cơ hội cải thiện mức sống đông hơn
tình trạng chung của các quốc gia kém phát triển. Phụ nữ vừa là nạn nhân
trực tiếp vừa thuộc số đông gánh chịu hậu quả gián tiếp của các bất hạnh
trên. Trong cơn lốc của phát triển kinh tế thị trường mà chính quyền dù
quyết tâm và thiện chí đến đâu cũng khó lòng kiểm soát mọi tác động tiêu cực,
những người có nhiều nguy cơ bị gạt ra bên lề cũng lại vẫn là phụ nữ, trẻ em,
khó thoát khỏi vòng xoáy đi xuống của đói nghèo, thất học, rơi vào tệ nạn xã
hội. Mua bán dâm, bạo hành, hôn nhân không tự nguyện và không bình đẳng, phụ
nữ, trẻ em mất nhân cách và bị biến thành hàng hóa hay thành nô lệ thời hiện
đại, những thảm cảnh quá phổ biến từ xa xưa không chỉ là những bóng ma của
quá khứ mà đang tiếp tục hoành hành như những tai họa xuyên quốc gia.
Những vấn đề nóng bỏng ấy, tuy nhiên, lại là thực tế hiển nhiên. Chúng ta
không khó nhận thức và cũng có cơ hội tranh thủ sự hỗ trợ từ quốc tế góp sức
cùng chúng ta chống đỡ. Có một loại nguy cơ khác, tiềm ẩn và khó phát hiện
hơn, khó nhận dạng hơn; và cũng khó có ai góp sức giải quyết ngòai chính
chúng ta, người Việt Nam và trước hết là phụ nữ Việt Nam.
Sức mạnh của truyền thống, kể cả truyền thống tích cực như phân tích ở trên
có khi lại có mặt trái là không thôi thúc chúng ta đổi mới, thậm chí không
cho phép chúng ta thoát khỏi lối mòn trong nhận thức, tư duy. Người phụ nữ
Việt Nam từng trải hàng nghìn năm đảm đang và chịu đựng, hy sinh. “Đảm đang”
là từ Hán Việt, mà nghĩa từ nguyên là đảm nhiệm, gánh vác trách nhiệm; khái
niệm đó vốn dĩ không có gì quy định nó phải thuộc về “nữ tính”. Nhưng đối
với phụ nữ Việt Nam, đó đã là truyền thống ăn sâu; từ cô bé còn ở tuổi ham
ngủ ham chơi đến người chị, người vợ, người mẹ, người dì, cô, thím, mợ, cả
đến tuổi bà, tuổi cụ, người phụ nữ Việt thấm nhuần giá trị “đảm đang” đến
nỗi không ai không ngại ngùng, xấu hổ nếu phải thừa nhận hay bị đánh giá
không phải là gái đảm. Vấn đề là hiểu nghĩa từ “đảm đang” như thế nào để
tránh xơ cứng và thể hiện quan tâm chia sẻ nhọc nhằn, áp lực với người vợ,
người mẹ đảm. Còn “chịu đựng, hy sinh” thì hình như giới nữ trong xã hội phụ
quyền Đông Tây kim cổ đều đã được giáo dục đức tính ấy thuộc về “nữ tính”.
Đó là chưa nói đến “tam tòng, tứ đức” của Tống Nho mà nhiều người vẫn chưa
muốn gột bỏ khỏi “truyền thống dân tộc”; để rồi, tuy “tam tòng” là rất khó
bảo vệ thời nay song “tứ đức” vẫn còn không ít người lưu luyến tìm cách đổ
rượu mới vào bình cũ. Thật đáng tiếc khi cứ phải dùng bình cũ, trong lúc đã
có những tổng kết tuyệt vời như tám chữ vàng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh ban
tặng phụ nữ Việt Nam: “anh hùng, bất khuất – theo chúng tôi hiểu, không chỉ
trong chiến đấu vũ trang hay đấu tranh cách mạng – trung hậu, đảm đang (thay
vì “nhẫn nhục, hy sinh” hay “tòng, tùy” ai đó)!
Chúng tôi không hề cho rằng những truyền thống có thật ấy là đã lạc hậu, cần
loại bỏ. Truyền thống đã từng là nguồn suối vô tận nuôi dưỡng ý chí, nghị
lực để hàng chục triệu phụ nữ Việt Nam nhiều thế hệ làm nên kỳ tích trong
chiến đấu hay nuôi lớn và tu tâm dưỡng tính con em mình trong gian khó, đói
nghèo. Sẽ càng nguy hiểm hơn nếu chúng ta vội vàng đánh mất giá trị cũ trong
khi giá trị mới chưa thực sự định hình và còn nhiều vàng thau lẫn lộn.
Chỉ ước mong sao chúng ta tôn trọng truyền thống mà biết đề phòng những biểu
hiện cực đoan; cả người quan sát Việt Nam và ngoại quốc từng cảnh báo: xu
hướng ít nhiều quá ôm đồm, bảo bọc, bao che, khiến con trẻ không còn cơ hội
trưởng thành, và cả chồng, cha cũng trở nên quá “vô tư”. “Con hư tại mẹ,
cháu hư tại bà”; câu tục ngữ ấy chắc chẳng phải do nhà nho trọng nam khinh
nữ nào phát biểu mà đúng hơn là tiếng nói “lý trí” trước sự nuông chiều quá
cảm tính của số đông trong phái nữ. Hay một bài báo gần đây mượn lại lời một
ca khúc nổi tiếng từng lay động nhiều thế hệ để nhắc nhở nguy cơ “chết đuối
trong biển Thái Bình” của con, nhất là con trai trong lòng mẹ bao la.
Mong cơ quan và Công Đoàn bớt cứng nhắc trong yêu cầu sự thành công toàn
diện với phong trào “hai giỏi”; mong đông đảo những người đàn ông đang vô
cùng yêu quý bạn gái, người yêu, vợ và nhất là mẹ của mình sẽ lưu tâm tránh
“thiêng liêng hóa”, “thần tượng hóa” người phụ nữ được yêu, tránh trông cậy
quá nhiều ở mẹ hiền, vợ đảm. Mong các chị tự giải phóng mình khỏi những định
kiến dù là “tích cực” về “truyền thống phụ nữ” hay “người phụ nữ truyền
thống”. Trước hết là để tránh khắc nghiệt trong nhìn nhận lẫn nhau, để cởi
mở và hợp tác hơn trong làm việc nhóm. “Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên
chồng”, chẳng phải phụ nữ vẫn vừa là nạn nhân vừa là đao phủ trong những bi
kịch ghen tuông, mẹ ghẻ con chồng, mẹ chồng nàng dâu, và hay “mang tiếng”
chi li đến thành nhỏ mọn khi nắm trách nhiệm quản lý, được quý trọng vì sự
tận tụy nhưng cũng làm người ta mệt mỏi vì tính so đo và “bệnh” kể công…?
Cũng để cho phép phát huy nhiều nét đẹp mới của “nữ tính”; để đông đảo phụ
nữ được quan tâm tạo điều kiện học hành, có nghề nghiệp mưu sinh; để từ sự
tự chủ về tri thức, về tư duy, về tài chính, vươn lên sự tự chủ đích thực mà
nếu chưa có nó thì chưa thể xem là một nhân cách trưởng thành và tự do.
Truyền thống có thể là quả núi có nguy cơ đè bẹp hiện tại và che khuất tương
lai; cũng có thể là suối nguồn nuôi sức sống mãnh liệt của thực tiễn cuộc
sống không ngừng đâm chồi nảy lộc. Bài viết này mong góp phần nhỏ làm tươi
nguồn cội và khơi dòng hướng đến ngày mai.
|